CÔNG TY TNHH SX TM XNK BASA MEKONG -MEKONGFISHMEAL Co., Ltd

" Uy Tín, Chất Lượng, Bền Vững - Prestige, Quality, Sustainable"

Tỉnh lộ 943 ,Tây khánh 2,P. Mỹ Hòa ,TP. Long Xuyên , AG ĐT:0763 958 167 - Road 943,Tay Khanh 2, My Hoa Ward, Long Xuyen City, An Giang Province, Vietnam Tel: 0763 958 167

TIN TỨC

Rộng mở thị trường cá tra, basa

Thứ 3 - 21:22 13/10/2020

Từ đầu năm 2009 đến nay, xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam đã mở rộng thêm thị trường ra 24 quốc gia mới, nâng tổng số các thị trường nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam lên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cá tra, basa vẫn đang là mặt hàng chiếm tỷ trọng giá trị xuất khẩu cao nhất trong nhóm thủy sản, nửa đầu năm 2009 đạt khối lượng xuất khẩu 206.000 tấn, kim ngạch 473,9 triệu USD. Thị trường tiêu thụ chính của cá tra, basa Việt Nam vẫn là EU với kim ngạch đạt 206 triệu USD trong 6 tháng đầu năm. Riêng thị trường Mỹ, bất chấp khó khăn do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu sang nước này đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đạt 45,97 triệu USD, tăng 59,98 % so với cùng kỳ năm 2008. Giữ vững thị trường cũ, mở thị trường mới Mặc dù chịu ảnh hưởng do khủng hoảng kinh tế, nhưng các thị trường nhập khẩu cá tra, cá basa chủ lực của Việt Nam (mạnh nhất là: EU, Mỹ, ASEAN, Ucraina, Mexico, Ai Cập) đều có mức tăng trưởng khá cả về mặt khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước. Do trong 4 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vẫn chưa được phép xuất khẩu sang thị trường Nga, nên số cá dư ra đã được họ đẩy mạnh sang tiêu thụ tại các thị trường này. Hiện tại, EU vẫn là khối thị trường lớn nhất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam, với 26/27 quốc gia đã nhập khẩu cá của Việt Nam. Trong đó, 3 nước đứng đầu là Tây Ban Nha, Đức và Hà Lan, có khối lượng nhập khẩu chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu cá tra, basa của toàn EU. Tây Ban Nha và Đức đồng thời là hai nhà nhập khẩu cá tra, basa lớn nhất của Việt Nam trong số 110 quốc gia nhập khẩu hai mặt hàng này. Thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu vào 3 quốc gia EU khác, là Rumani, Bungari và Hungari. Sở dĩ cho tới nay, thị trường EU vẫn thích tiêu thụ cá tra, basa của Việt Nam là vì có mức giá phù hợp, đáp ứng tốt an toàn vệ sinh thực phẩm. Nửa đầu năm 2009, gần 100/190 doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường EU. Giá xuất khẩu trung bình cá tra của Việt Nam tới các nước EU tính theo giá FOB kể từ đầu năm đến nay đạt 2,445 USD/kg. Dự báo, trong quý 3 tới đây, giá xuất khẩu mặt hàng này vẫn tiếp tục ổn định tại thị trường EU. Tuy nhiên, từ tháng 5 trở lại đây, sản lượng cá tra, basa xuất khẩu sang EU đã chững lại, nguyên nhân chính là do khan hiếm nguồn hàng. Nga là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 4 của Việt Nam, riêng đối với mặt hàng cá tra thì Nga lại càng là thị trường đầy tiềm năng, vì có nhu cầu cao đối với mặt hàng này. Hơn nữa, nếu so với các thị trường Nhật, Mỹ, EU thì thị trường Nga dễ tính hơn. Theo báo cáo của Thương vụ Việt Nam tại Nga, năm 2008, tỷ trọng cá tra của Việt Nam xuất khẩu sang Nga chiếm 94,4% về khối lượng và 86,5% về giá trị trong tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đến thị trường này, đạt 118.155 tấn, trị giá 188,45 triệu USD. Những tháng đầu năm, Nga đóng cửa đối với cá tra, basa Việt Nam, đã gây nhiều khó khăn cho xuất khẩu thủy sản. Từ tháng 5/2009, việc mở cửa thị trường Nga là tín hiệu rất tốt cho ngành Thuỷ sản Việt Nam và trong thời gian tới, Nga sẽ vẫn là thị trường lớn nhập khẩu cá tra của Việt Nam. Tại Australia, cá tra đông lạnh là một trong hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (cùng với tôm đông lạnh) nhưng mức tăng trưởng của mặt hàng từ đầu năm đến nay đã giảm so với cùng kỳ năm 2008. Tại thị trường này, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã chuyển hướng xuất khẩu các mặt hàng đông lạnh khác, như mực, cá basa, cá ngừ (trong đó cá basa tăng 63,9% về lượng và tăng 50,4% về kim ngạch). Giá xuất khẩu trung bình cá tra đông lạnh tại thị trường Australia nửa đầu năm 2009 là 2,94 USD/kg (giảm 3,8%). Công ty TNHH Thuận Hưng hiện là doanh nghiệp đứng đầu về xuất khẩu cá tra đông lạnh vào Australia với kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2009 đạt trên 2,7 triệu USD, tiếp theo là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang - xấp xỉ 2,1 triệu USD, Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn - trên 1,9 triệu USD. Để vượt qua những khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa nước ta đã tích cực mở rộng những thị trường mới. Nửa đầu năm 2009, có thêm 24 quốc gia mới nhập khẩu cá tra, cá basa của VN. Trong đó, Cadắcxtan, Nigeria và Irắc là 3 nước nhập khẩu rất triển vọng với số lượng nhập khẩu lớn. Thúc đẩy nuôi trồng để chủ động nguồn cung Xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam trong tháng 4/2009 đạt mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay, với khối lượng đạt 46.200 tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2008. Tuy nhiên, sang đến tháng 5, xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam đã có biểu hiện chững lại. Nguyên nhân nằm ở việc nguồn cung cá nguyên liệu giảm, dẫn tới lượng cá xuất khẩu giảm. Trong khi trên thế giới, nhu cầu về cá tra, cá basa ở hầu hết các thị trường đều rất cao. Vào tháng 5/2009, diện tích nuôi thả cá tra, basa ở nước ta chỉ bằng 60% diện tích cùng kỳ năm 2008, xấp xỉ 3.690 ha. Phần diện tích còn lại đã bị bỏ không vì người nuôi không đủ niềm tin về đầu ra. Trước tình hình đó, một số doanh nghiệp đã chủ động ký hợp đồng bao tiêu khiến các hộ nuôi bắt đầu yên tâm thả nuôi lại trên những diện tích bỏ trống. Đồng thời ký cam kết thu mua cá nguyên liệu với mức giá ổn định 15.500 đến 16.500 đồng/kg để nông dân có lãi. Nhờ vậy đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Nuôi trồng thủy sản, 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã thả gần 1,7 triệu con giống cá tra trên diện tích hơn 5.500 ha, đạt 83% kế hoạch thả nuôi năm 2009. Trong đó, 1.133ha diện tích cá tra đã thu hoạch, bằng 22,1% diện tích thả nuôi, với sản lượng đạt 312.337 tấn. Năng suất bình quân trên 240 tấn/ha Tại Tiền Giang năng suất đạt 264 tấn/ha, Đồng Tháp 302 tấn/ha, Vĩnh Long 300 tấn/ha, Cần Thơ 224 tấn/ha, Hậu Giang 230 tấn/ha và Trà Vinh 267 tấn/ha. Sản lượng cá đến kỳ thu hoạch tính đến nay là 119.160 tấn, trong đó tập trung ở Đồng Tháp 53.944 tấn, Cần Thơ 32.955 tấn và An Giang 14.362 tấn. Lượng cá tồn đọng (loại >1kg) khoảng 6.743 tấn, bằng 4,15% lượng tồn đọng của năm 2008. Trong thời gian qua, ngành thủy sản nước ta đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn thách thức. Do sự phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, nên mặt hàng này luôn ở tình trạng mất cân đối cung - cầu, với những biến động khó lường. Trong khi đó, nhiều quốc gia trước tình hình suy thoái kinh tế, đã bảo hộ sản xuất trong nước, đưa thông tin sai lệch về cá tra của Việt Nam. Đây cũng là những thách thức lớn của ngành nuôi trồng thủy sản trong những tháng còn lại của năm 2009. Các chuyên gia kinh tế lại dự báo rằng, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sẽ không đẩy mức giá xuất khẩu, mà chấp nhận giá cá ổn định ở mức thấp như hiện nay, chấp nhận lợi nhuận thấp để cân bằng lợi ích hai bên - nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, vì tất cả đều đang phải trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn. Nhiều chuyên gia lạc quan dự báo, kim ngạch xuất khẩu cá tra, basa năm nay có thể đạt mức 1,2 - 1,3 tỉ USD, cao hơn dự báo trước đó của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (chỉ đạt khoảng 1 tỉ USD). Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam

Nguy cơ mất thị trường cá tra, ba sa do Mỹ thay đổi quy định

Thứ 3 - 21:22 13/10/2020

(TBKTSG Online) – Những tiêu chuẩn mà người nuôi cá tra, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đang áp dụng như BAP, GlobalGap (thực hành nông nghiệp tốt), ASC khi xuất sang Mỹ sẽ có không có ý nghĩa gì trong thời gian tới mà phải theo một hệ thống tiêu chuẩn được Mỹ đồng ý là tương đương. Đây là những yêu cầu nằm trong “Quy định cuối cùng” về việc thiết lập chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc bộ Siluriformes, trong đó có cá tra, cá basa của Việt Nam, vừa được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ban hành. Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong thời gian tới, để cá tra xuất khẩu sang Mỹ, Việt Nam phải đưa ra một hệ thống những tiêu chuẩn được phía Mỹ xem xét là tương đương và căn cứ trên đó, các doanh nghiệp sẽ làm theo. Ông Hòe cho biết, hiện tại, cá tra xuất khẩu qua Mỹ phải bị kiểm soát bởi FDA, tức là cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm nhập khẩu vào Mỹ. Nhưng sắp tới, Ban quản lý thực phẩm nông nghiệp an toàn và dịch vụ kiểm soát (FSIS) của Mỹ sẽ kiểm tra tất cả các quy trình “tạo ra sản phẩm cá tra” từ khâu con giống… đến sản phẩm cuối cùng. Ông John P.Connelly, Chủ tịch Viện Thủy sản Mỹ (National Fisheries Institute) trong buổi làm việc với Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) hôm nay 8-12, cho biết, để tiếp tục xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ phải gởi cho phía Mỹ danh sách những doanh nghiệp đang và có mong muốn xuất khẩu cá tra sang Mỹ. Và dĩ nhiên, những doanh nghiệp này phải chịu sự “kiểm soát” tất cả các quy trình trong khâu sản xuất, chế biến cá tra. “Về mặt lý thuyết, thời gian tới, Việt Nam sẽ có một hệ thống tiêu chuẩn cho con cá tra từ khâu sản xuất giống đến nuôi trồng, chế biến rồi xuất khẩu tương đương tiêu chuẩn của Mỹ, còn sau đó, có bao nhiêu doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn này hay không là một câu chuyện khác”, ông Hòe của VASEP cho biết. Khó khăn cho doanh nghiệp Trong khi đó, ông Võ Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội cá tra Việt Nam, nói rằng việc Mỹ thực hiện quy định giám sát mới với cá da trơn có thể khiến ngành cá tra, ba sa có nguy cơ mất thị trường Mỹ, vốn chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Thực tế, để điều kiện sản xuất cá tra của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của một nước có trình độ phát triển như Mỹ cực kỳ khó khăn. Ngay cả Nghị định 36 về cá tra nhằm nâng cao một số tiêu chuẩn chất lượng trong nước cũng đã vấp phải sự phản ứng của doanh nghiệp, nói chi áp dụng theo tiêu chuẩn Mỹ. Hoa Kỳ đưa ra quy định kiểm tra này với lý do nhà sản xuất của Mỹ sản xuất như vậy thì doanh nghiệp nước ngoài muốn xuất khẩu cá vào Mỹ cũng phải áp dụng tương tự. Nhưng tiêu chuẩn là do họ đưa ra và họ tự công nhận chứ không phải do bên thứ ba. “Cho nên, nếu họ muốn dựng lên rào cản, ngăn cản cá tra, ba sa vào Mỹ thì đây là một rào cản có thẩm quyền thuộc về họ”, ông Dũng nói. Thực tế, trước đây Thái Lan cũng đã bị Mỹ áp dụng đạo luật này với mặt hàng thịt gà. Sau đó, Thái Lan đã đấu tranh nhiều năm nhưng phía Mỹ vẫn áp dụng tiêu chuẩn tương đương. Đã có ý kiến trong cộng đồng doanh nghiệp là nên kiện Hoa Kỳ ra WTO, song ông Dũng cho hay, việc kiện tụng rất khó khăn vì liên quan tới chi phí kiện tụng. Hơn nữa, liệu kiện có thắng không, sau kiện là gì, ai sẽ chi trả khoản phí đó, thuê mướn luật sư Mỹ ra sao để kiện lại chính phủ Mỹ? Đây là một loạt câu hỏi cần phải trả lời trước khi kiện tụng. Gấp rút sửa đổi quy định Theo ông Nguyễn Ngọc Oai, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NNPTNT), Bộ đang nghiên cứu sửa lại Nghị định 36, đặc biệt là thông tư 23 để phù hợp với tiêu chuẩn tương đương mà Hoa Kỳ đưa ra. Thực tế, quy định mới của Hoa Kỳ không chỉ áp dụng riêng cho Việt Nam mà đối với tất cả các nước xuất khẩu cá tra, cá ba sa vào nước này. Thời gian Hoa Kỳ áp dụng quy định mới rất gấp nên sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng như hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam. Do đó, theo Bộ trưởng NNPTNT Cao Đức Phát, từ nay đến đầu tháng 3-2016, Bộ NNPTNT sẽ phối hợp với Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) gửi cho Mỹ danh sách các doanh nghiệp có mong muốn tiếp tục xuất khẩu cá tra, cá ba sa vào Mỹ, cũng như cung cấp các thông tin cho Mỹ về các hệ thống luật pháp, hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong sản xuất chế biến cá tra, cá ba sa của Việt Nam theo như yêu cầu của phía Hoa Kỳ. Kể từ tháng 3-2016 trở đi sẽ là khoảng thời gian chuyển tiếp 18 tháng. Trong 18 tháng này, Việt Nam sẽ phải cung cấp các tư liệu để chứng minh rằng Việt Nam có hệ thống quản lý đối với sản xuất, chế biến cá da trơn tương đồng với Mỹ. “Đây là quan ngại lớn, bởi hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn của Việt Nam và Mỹ đang có nhiều sự khác biệt”, Bộ trưởng Phát nói. Còn về dài hạn, Bộ NNPTNT đã yêu cầu các đơn vị chuyên môn rà soát, đối chiếu thật cụ thể, chi tiết để xem giữa quy định trong nước đang áp dụng còn chỗ nào chưa phù hợp, chưa tương đồng với quy định mới của Hoa Kỳ để điều chỉnh. Hiện tại, trung bình mỗi năm, giá trị xuất khẩu cá tra sang Mỹ dao động ở mức 300 triệu đô la Mỹ, tương đương khoảng 20% tổng giá trị xuất khẩu cá tra. Vì thế, theo ông Hòe, những quy định mới của Mỹ ít nhiều gây khó khăn cho cá tra xuất sang thị trường này. Là một người có nhiều năm làm việc trong lĩnh vực thủy sản, trải qua nhiều cuộc họp liên quan đến chuyện áp thế bán phá giá, hàng rào kỹ thuật đối với cá tra vào Mỹ, ông Hòe cho rằng, những hệ thống quy định mà FSIS đưa ra ở một khía cạnh nào đó là nhằm bảo hộ cho ngành cá da trơn (catfish) của Mỹ. “Ý tưởng đưa cá da trơn vào một chuỗi kiểm soát bắt đầu từ Farm Bill 2008,... và ý tưởng này đã bị phản đối từ nhiều bên và hiện nay vẫn đang tiếp tục nhận phản đối từ một số nghĩ sĩ ở Mỹ. Theo tôi, những gì mà phía Mỹ đang đưa ra có thể xem như một hàng rào kỹ thuật để bảo hộ cho ngành sản xuất cá da trơn của Mỹ”, ông Hòe nói. Ngày 2-12-2015, Cơ quan giám sát an toàn thực phẩm (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) đã quyết định ban hành "quy định cuối cùng" về việc thiết lập chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc bộ Siluriformes, trong đó có cá da trơn và cá tra của Việt Nam. "Quy định cuối cùng" được triển khai theo yêu cầu của Luật Nông nghiệp 2014 (Farm Bill 2014) của Hoa Kỳ và áp dụng đối với tất cả các loài cá thuộc bộ Siluriformes, tức cá da trơn nuôi trồng nội địa và nhập khẩu. Quy định này sẽ có hiệu lực bắt đầu từ tháng 3-2016, tức 90 ngày sau khi đăng Công báo Liên bang. Một trong những nội dung quan trọng của quy định này là Hoa Kỳ sẽ áp dụng quy trình giám sát chặt chẽ từ khâu sản xuất, chế biến đối với cá tra và cá ba sa của tất các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ theo tiêu chuẩn phải tương đương với tiêu chuẩn mà Hoa Kỳ đang áp dụng. Đồng thời, quy định mới cũng yêu cầu quy trình giám sát từ khâu sản xuất, chế biến cá tra, cá ba sa phải tương tự như quy trình giám sát đối với thịt và sản phẩm thịt của Hoa Kỳ đang áp dụng. Cùng với sự thay đổi này, Hoa Kỳ cũng sẽ thay đổi thẩm quyền giám sát các sản phẩm cá tra, cá ba sa, kể cả sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu, từ Cục Quản lí Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) trước đây chuyển sang cho Cục Kiểm dịch, Thanh tra An toàn thực phẩm (FSIS). Trong giai đoạn chuyển giao thẩm quyền giám sát của FDA cho FSIS, Hoa Kỳ sẽ có giai đoạn chuyển đổi, theo đó trước ngày 2-3-2016, các nước hiện đang xuất khẩu sản phẩm cá cá, cá ba sa vào Hoa Kỳ, nếu có mong muốn tiếp tục xuất khẩu cần phải cung cấp danh sách các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện đang xuất khẩu, cũng như các tài liệu bằng văn bản để chứng minh thẩm quyền được xuất khẩu cũng như tuân thủ theo những quy định nhập khẩu hiện hành của FDA. Trong 18 tháng chuyển đổi, FSIS sẽ tiến hành tái giám sát và lấy mẫu ngẫu nhiên ít nhất 1 lần/quý tại cơ sở xuất khẩu sang Hoa Kỳ để giám định về chủng loại cá cũng như dư lượng hóa chất có trong các lô hàng cá thuộc bộ Siluriformes. Sau khi kết thúc thời gian chuyển đổi 18 tháng này, các nước muốn tiếp tục xuất khẩu phải nộp tiếp hồ sơ để Hoa Kỳ xem xét Tiêu chuẩn tương đồng…

Nguồn cung cấp bột cá nhiều triển vọng trong ngắn hạn, nhưng cần giải pháp lâu dài

Thứ 5 - 17:51 04/02/2021

Báo cáo mới nhất của Rabobank, xem xét tình hình hiện tại của thị trường bột cá toàn cầu, cho thấy sau ba năm nguồn cung cá cơm Peru ở mức thấp, sản lượng thu hoạch đã được cải thiện trong năm nay. Nghiên cứu cho thấy điều này chủ yếu là do sự vắng mặt của El Nino, sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt biển xảy ra vài năm một lần ở vùng Thái Bình Dương, xích đạo, Trung Đông và ảnh hưởng đến sự phân bố địa lý của các nguồn lợi thủy sản. Sự gia tăng sản lượng cá cơm đã làm tăng nguồn cung cấp bột cá và dầu cá, và xu hướng này sẽ tiếp tục trong ngắn hạn. Theo các tác giả của báo cáo, Gorjan Nikolik và Beyhan de Jong, ngành nuôi trồng thuỷ sản hiện tiêu thụ 70% lượng bột cá và 73% lượng dầu cá. Ngành chăn nuôi lợn chiếm 22% thị trường bột cá và ngành chăn nuôi gà chiếm thêm 6%, và tiêu dùng trực tiếp của con người chiếm 21% thị trường dầu cá. Số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho thấy 2/3 diện tích nuôi trồng thủy sản toàn cầu hiện nay dựa trên diện tích canh tác rộng lớn, sử dụng ít thức ăn nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, việc nuôi thâm canh các loài như cá hồi, tôm, cá da trơn, cá rô phi, cá mú, và cá tráp biển tạo ra nhu cầu lớn về bột cá và dầu cá. Nikolik và de Jong mong đợi các loài mới hơn bao gồm cá ngừ vây xanh, các loài thủy sản Amazon và cá giò sẽ dẫn dắt nhu cầu tương lai về bột cá và dầu cá, được dự đoán sẽ có tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 6% cho đến năm 2020. Nikolik và de Jong cho biết: “Xu hướng nuôi thủy sản thâm canh làm tăng nhu cầu thức ăn nuôi trồng thủy sản. Thêm vào đó, hầu hết các loài nuôi mới là động vật ăn thịt, điều này làm tăng hơn nữa nhu cầu bột cá và dầu cá”. Khai thác thủy sản toàn cầu đã bị suy giảm kể từ những năm 1980, và nguồn cung bột cá giảm xuống mức thấp là 4,2 triệu tấn vào năm 2016 từ mức cao khoảng 7 triệu tấn năm 2000. Các tác giả cho biết nguồn cung bột cá bị ảnh hưởng bởi các hình thức thu hoạch yếu kém và việc tăng cường sử dụng các loài cá biển nhỏ để tiêu thụ trực tiếp, cũng như các điều kiện khí hậu, đặc biệt là El Niño. Nguồn cung hiện dự kiến ​​sẽ ổn định, nhưng trong dài hạn sản lượng cá biển dự kiến không tăng trưởng hơn nữa do giới hạn về hạn ngạch. Nhu cầu từ ngành thức ăn nuôi trồng thủy sản đã tăng đều trong suốt thời gian này, và mặc dù ngành thức ăn nuôi trồng thủy sản giảm lượng bột cá trong thức ăn từ khoảng 70% trong những năm 1990 xuống còn 25% hiện tại, vẫn có sự chênh lệch giữa nguồn cung dự kiến ​​và nhu cầu trong tương lai. Các công ty thức ăn nuôi trồng thủy sản lớn đã thử nghiệm thức ăn nuôi trồng thủy sản không có thành phần bột cá, nhưng những người trong ngành này vẫn đồng quan điểm là loại thức ăn này hiện nay vẫn chưa phải là loại thức ăn tối ưu cho các loài thủy sản. Thị trường đã đáp ứng một phần nhu cầu protein thông qua việc tăng cường sử dụng các bộ phận của các loài thủy sản cho con người, nguồn protein từ thực vật và protein từ động vật chế biến và các sản phẩm phụ từ động vật như bột lông vũ và bột máu. Các quy định này là khác nhau giữa các quốc gia và các nguyên liệu thay thế này không được chấp nhận rộng rãi, điều này làm phức tạp thêm nguồn cung thị trường. Nhiều người đang làm việc trong ngành sản xuất bột cá đang nghiên cứu tìm ra các chất thay thế cho protein động vật. Các nguyên liệu tiềm năng nhất trong là trong các nguồn protein vi khuẩn và nguồn protein dựa trên côn trùng và dầu tảo. Con người đang rất nỗ lực và nhiều quỹ đang tìm kiếm các nguyên liệu thay thế và các công ty mới đang được khuyến khích tham gia vào lĩnh vực này thông qua các sáng kiến ​​như Challenge F3 Fish-Free Feed (thức ăn nuôi trồng thủy sản không có thành phần bột cá). Các ví dụ về quy mô thương mại của các công ty đã sản xuất ra các protein mới bao gồm một liên doanh của Brazil giữa TerraVia và Bunge trong việc thành lập một nhà máy sản xuất dầu tảo quy mô lớn và FeedKind Aqua của Calysta, trong đó Cargill đã đầu tư vào việc thành lập nhà máy lên men khí lớn nhất thế giới tại Memphis, Tennessee. FeedKind Aqua của Calysta, UniProtein của Unibo và Mango Materials đều sử dụng khí mê-tan làm nguyên liệu để sản xuất ra vi khuẩn sinh học. KnipBio sử dụng ethanol và methanol, và Novo Nutrients của Oakbio sử dụng carbon dioxide và chất thải carbon. Một lợi thế lớn của các nguồn protein như vậy là sản xuất bền vững, sử dụng ít nước và không cần đất nông nghiệp, và không gây tác động đến chuỗi thức ăn của con người. Nikolik và de Jong nhận thấy rằng protein từ côn trùng có tiềm năng là một trong những nguồn cung cấp thức ăn thay thế bền vững nhất, nhưng cần đầu tư lớn hơn để đạt được quy mô thương mại. Nguồn protein bao gồm kiến lính đen, ấu trùng bọ, châu chấu và dế. Các rào cản pháp lý đã ngăn cản việc đưa protein từ côn trùng vào thức ăn nuôi trồng thủy sản, nhưng việc sử dụng loại nguyên liệu này trong thức ăn nuôi trồng thủy sản đã được Liên minh Châu Âu phê duyệt bắt đầu từ tháng 7 năm 2017. Nikolik và de Jong cho biết: “Xét về sự có mặt của một số dự án protein thay thế trên toàn cầu, chúng ta có thể ước tính có thêm khoảng 500.000 tấn protein thay thế chất lượng cao trong thức ăn nuôi trồng thủy sản vào năm 2022. Với sự đóng góp còn lại của ngành từ sản lượng đánh bắt tự nhiên, tổng sản lượng bột cá có thể đạt 5,4 triệu tấn vào năm 2022”. HNN (Theo seafoodsource)

Giá bột cá Peru tăng lên đến 2.400 USD/tấn

Thứ 3 - 21:22 13/10/2020

Giá bột cá từ Peru đã tăng mạnh do nguồn cung khan hiếm. Sau khi Viện nghiên cứu hàng hải Pêru (Imarpe) đình chỉ đánh bắt cá cơm trong vụ 2, giá bột cá phẩm cấp cao nhất đã đạt 2.400 USD/ tấn (giá FOB tại Peru). Giữa tháng 10, giá mới dừng ở mức 2.100 USD/tấn. Trước khi hội nghị IFFO, 40.000 tấn đã được bán ra ở mức 2.100 USD/ tấn cho loại phẩm cấp cao nhất và 1.950 USD / tấn đối với loại tiêu chuẩn. Trong hội nghị, đã có giao dịch cho 10.000 tấn, với giá 2.300 USD/ tấn cho loại phẩm cấp cao nhất và 2.100 USD/ tấn đối với loại tiêu chuẩn. Cho đến tháng 5/2015, Peru sẽ không có nguồn bột cá. Do nguồn cung hạn chế nên có hồ sơ dự thầu tăng đến mức 2.400 USD/ tấn cho loại phẩm cấp cao nhất.  Triển vọng ảm đạm Tại hội nghị IFFO, Hiệp hội Thủy sản Quốc gia Peru cho biết, sẽ khảo sát trữ lượng cá cơm trong nửa đầu tháng 12. Hai phương pháp được áp dụng là khảo sát trong 1 tháng và câu thử nghiệm trong 2 ngày. Về phương pháp câu thử nghiệm, thời điểm này khó có thể đạt được kết quả cao. Giá  tăng cao khiến người mua bột cá Trung Quốc phải tìm nguồn thay thế. Đối với dầu cá, nguồn cung cấp là một vấn đề lớn. Trong vụ cá cơm đầu tiên của Peru trong năm nay, sản lượng chỉ đạt 1,7 triệu tấn trong khi TAC cho vụ này là 2,53 triệu tấn. Với lượng này, sẽ sản xuất được khoảng 380.000 tấn bột cá, thấp hơn so với các năm trước. Do hiện tượng El Nino, sản lượng đánh bắt vụ sau năm 2014 sẽ đạt khoảng 1,45 triệu tấn.

TRUNG QUỐC TĂNG MUA BỘT CÁ VIỆT NAM

Thứ 3 - 21:22 13/10/2020

Vụ đánh bắt cá tại Peru sẽ bắt đầu vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12 tới nhưng theo khảo sát của Viện Hải dương học Peru (Imarpe), trữ lượng cá mùa đông này sẽ chỉ đạt khoảng 1,5 triệu tấn, từ hơn 10 triệu tấn vào mùa xuân. Khi đó, sản lượng bột cá trong năm 2014 có thể sẽ giảm tới hơn 40%, xuống còn 700.000 tấn. Trữ lượng cá thấp như vậy có thể là do những bất thường về khí hậu và điều kiện môi trường dọc bờ biển Peru đẩy cá ra xa hơn khỏi khu vực đánh bắt cá truyền thống. Trong gần một tháng trở lại đây, giá bột cá đã tăng một cách chóng mặt, giá bột cá Peru loại 65% protein đã tăng từ mức 1.680 đô la Mỹ/tấn (FOB) hồi giữa tháng 10, lên mức 2.060 đô la/tấn (FOB) vào đầu tháng 11. Nguồn cung bột cá đang cực kỳ khan hiếm, hiện tồn kho bột cá Peru chỉ còn khoảng 30.000 - 35.000 tấn và chủ yếu là bột cá phẩm cấp thấp.     Việc giá bột cá Peru tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến Trung Quốc bởi nước này là nhà nhập khẩu bột cá lớn nhất thế giới, chiếm tới 85% sản lượng bột cá xuất khẩu của Peru. Các nhà nhập khẩu nước này đang chuyển hướng sang tìm kiếm các nguồn cung khác để thay thế. Hiện ở châu Âu, Trung Quốc chủ yếu nhập hàng từ Đan Mạch do Iceland và Na Uy chưa có giấy phép xuất khẩu bột cá sang nước này. Tuy nhiên, nguồn cung bột cá Đan Mạch cũng không lớn nên Trung Quốc đang thiếu hụt nghiêm trọng bột cá.   Gần đây, có tin cho biết các thương lái Việt Nam đã bắt đầu vận chuyển bột cá Việt Nam lên cửa khẩu phía Bắc để bán cho phía Trung Quốc, khiến cho giá bột cá nội địa đang rục rịch tăng. Bột cá 60% đạm và 65% đạm tại kho Kiên Giang đang được chào lần lượt ở mức 26.300 - 26.850 đồng/kg và 30.000 - 30.300 đồng/kg, tương ứng tăng800 - 1.350 đồng/kg và 300 đồng/kg so với tuần trước.   Nhu cầu của Trung Quốc có thể sẽ khá lớn bởi giai đoạn cuối năm nhu cầu bột cá cho sản xuất thức ăn thủy sản của nước này tăng cao, trong khi vụ đánh bắt cá của Peru chưa bắt đầu. Do đó, việc giá bột cá của Peru tăng cao trong một tháng trở lại đây có thể khiến cho các nhà nhập khẩu Trung Quốc chuyển sang nhập khẩu từ các nước khác thay thế, trong đó có Việt Nam.   Tuy nhiên, trong khoảng thời gian cuối năm nay và đầu năm tới nguồn cung bột cá biển không có nhiều bởi rộ vụ khai thác là giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 8. Trong bối cảnh nhu cầu mua của các nhà máy thức ăn thủy sản trong nước tăng, cộng với nhu cầu gom hàng để xuất đi Trung Quốc thì nhiều khả năng giá bột cá sẽ tăng khá mạnh trong thời gian tới.   Việc giá bột cá nội địa tăng sẽ khiến cho các nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản nội địa phải chịu chi phí lớn hơn cho việc mua nguyên liệu, đẩy chi phí sản xuất của ngành thủy sản tăng lên.   Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

TIÊU CHUẨN CHO BỘT CÁ BIỂN TỐT

Thứ 3 - 21:22 13/10/2020

Từ bao đời nay, thiên nhiên ưu đãi cho ngư trường khai thác hải sản với nguồn lợi lớn. Bên cạnh các loại hải sản có giá trị cao vẫn có các loại cá nhỏ, cá tạp có giá trị thấp. Một cách để nâng cao giá trị của các loại cá này là chế biến các loai cá tạp thành bột cá – nguồn nguyên liệu chính trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Bột cá được chế biến từ thịt cá, cá tạp, cá nguyên con, đầu và xương cá hay các phụ phẩm khác từ quá trình chế biến cá. Hiện tại ở Việt Nam bột cá được sản xuất từ 2 nguồn nguyên liệu chính là nguyên liệu cá biển (cá nước mặn) và nguyên liệu cá tra (cá nước ngọt). Với các phụ phẩm cá và cá không đảm bảo quy cách, sau khi chế biến thu được bột cá dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy hải sản. Trong thức ăn chăn nuôi thì bột cá được xem như là một trong những thành phần rất có giá trị. Nó có vị ngon và chất lượng rất tốt, cung cấp đủ prôtêin với các axít béo thiết yếu giúp vật nuôi phát triển tốt. Do đó việc phân tích thành phần các chất có trong bột cá sẽ giúp các nhà sản xuất biết rõ chất lượng của sản phẩm đơn vị mình làm ra cũng như giúp các nhà tiêu thụ an tâm về chất lượng của sản phẩm mình sử dụng. Tiêu chuẩn bột cá: Bảng 1: Các chỉ tiêu cảm quan của bột cá Chỉ Tiêu Hạng Hạng 1 Hạng 2 Hạng 3 1. Màu sắc Nâu nhạt Nâu đến nâu sẫm 2. Mùi Có mùi thơm đặc trưng của bột cá, không có mùi mốc, mùi hôi hoặc mùi khác lạ. 3. Trạng thái bền ngoài Tơi, không vón cục, không có sâu mọt, không mốc, không lẫn vật lạ. 4. Độ mịn Bột cá phải lọt sàng có đường kính mắt sàng 3,0mm, cho phép phần còn lại trên sàng không vượt quá 5%.   Bột cá không được chứa Samonella, E. Coli, các độc tố nấm mốc và các chất độc hại. Dư lượng chất bảo quản và các chất nhiễm bẩn khác không được vượt quá mức tối đa cho phép theo qui định hiện hành. 2. Yêu cầu về các chỉ tiêu lý hoá Yêu cầu về các chỉ tiêu lý hoá của bột cá được qui định trong bảng 2. Bảng 2: Các chỉ tiêu lý hoá của bột cá Chỉ Tiêu Hạng Hạng 1 Hạng 2 Hạng 3 1. Độ ẩm, tính theo % khối lượng, không lớn hơn 10 10 10 2. Hàm lượng protein thô, tính theo % khối lượng, không nhỏ hơn. 60 50 40 3. Hàm lượng chất béo, tính theo % khối lượng, không lớn hơn 8 10 12 4. Hàm lượng muối natriclorua, tính theo % khối lượng, không lớn hơn 2 3 5 5. Hàm lượng tro không tan trong axit Clohyđric (cát sạn) tính theo % khối lượng, không lớn hơn 2 2,5 3 6. Mảnh vật rắn sắc nhọn. Không có Không có Không có 7. Hàm lượng nitơ bay hơi tổng số, tính theo mg/100g, không lớn hơn 150 250 350   ST internet